Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang nhà. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang nhà. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2016

Chúng tôi có một đại gia đình


Trong cuộc đời của mỗi con người, ai cũng có gia đình và có một quê hương để mà thương mà nhớ. Nơi ấy là nơi ta cất tiếng khóc chào đời có nhiều kỷ niệm của tuổi thơ với biết bao niềm vui, nổi buồn cho đến khi trưởng thành.

Tôi cũng sinh ra trong một gia đình ở vùng quê nghèo, nghèo lắm. Tuổi thơ tôi cũng lắm nhọc nhằn, vất vả với những công việc của con nhà nông. Chị em tôi phải thức khuya, dậy sớm để đi cấy đổi lấy công cày, dù rôm sảy đầy mình, trời lạnh đến thấu xương!

Tuổi thơ tôi lớn lên bằng hơi ấm của ba, bằng tình thương của má! Ngay từ khi còn nhỏ, chị em tôi đã được ba má dạy rằng: chị em các con phải biết thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống.

Từ lúc còn bé xíu xiu, tôi rất yêu cái cảm giác được cùng gia đình quây quần bên mâm cơm bốc khói, vừa thưởng thức những hương vị thơm ngon của món canh chua cá lóc do má nấu. Ăn canh chua cá lóc, nhấm nháp vị chua đặc trưng của me hòa lẫn vị thơm thơm bùi bùi của thịt cá lóc, vị thơm ngọt ngào của rau thơm, rau quế, vị mặn mà của nước mắm nguyên chất của quê hương.

Những ngày Tết, tôi thích nhất là nồi thịt kho với hột vịt do má nấu. Thịt ba rọi nửa nạc nửa mỡ, nước thịt trong ngần vương lớp mỡ trong veo, miếng thịt thơm, mềm mà không ngấy mới ngon. Nồi thịt kho ngon để nửa tháng vẫn còn thơm lừng. Món này ăn với cơm trắng và dưa giá rất ngon.


Khi trưởng thành, dù mỗi người mỗi nơi, nhưng năm nào cùng vậy, cứ ngày mùng một Tết là anh chị em chúng tôi về nhà để đón Tết cùng ba má. Con cháu về đông đủ, má tôi mừng ra mặt. Ngày Tết là ngày ba má, gia đình tôi vui vẻ nhất. Các anh, chị, em chúng tôi đều tề tựu đông đủ để vui Xuân, đón Tết cùng gia đình.

Hạnh phúc nhất, vui vẻ nhất trong những ngày Tết có lẽ là được ông bà, ba má lì xì, chúc phúc̀. Rồi các cháu, các con xúm lại quanh ba má tôi để mừng tuổi ông bà. Niềm hân hoan, niềm vui lúc này dâng trào nơi khoé mắt má tôi.

Có nỗi nhớ nào hơn là nỗi nhớ nhà, nhớ ba, nhớ má. 16 năm rồi, lúc đó tôi không còn nhỏ, đủ để hiểu mất mát ấy lớn thế nào! Đến nay, tôi vẫn chưa tin rằng, gia đình mình đã vĩnh viễn mất Ba!

Có những đêm dài thèm nghe lời ru của má, những lời ru nghe mộc mạc nhưng thiết tha, tình cảm cũng như chính cuộc đời của má quanh năm lam lũ, tảo tần hy sinh cho chồng, cho con... Nhưng đã 6 năm rồi gia đình mình vắng má. Không ai tin là má đã đi xa…!

Nhưng nhờ ơn đức của má ba, chúng tôi còn có một gia đình, một đại gia đình. Ở đây có anh, có chị, các em, các cháu. Đây vừa là cái nôi, vừa là mái ấm, vừa là trường học cho mọi thành viên trong đại gia đình.

Theo lối sinh hoạt đã thành thông lệ, mỗi tuần gặp gỡ nhau vào thứ bảy và chủ nhật, Đây cũng là dịp sum họp gia đình, vừa ăn uống vui vẻ, vừa chia sẻ niềm vui, nổi buồn, vừa động viên con cháu học tập và rèn luyện nhân cách. Đây là truyền thống của gia đình tôi!

Thèm lắm được một lần trở về với gia đình tuổi thơ, nơi đó có hơi ấm của ba, có tình thương của má, có tiếng cười đùa của chị em tôi!



Viết nhân Ngày Gia đình Việt Nam
Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 27 tháng 06 năm 2016

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2016

Hồ sơ Biển Đông: Chính nghĩa thuộc về Việt Nam.


Theo báo Philippines, ngày 7 tháng 7 năm 2016, Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye (Hà Lan) có thể sẽ đưa ra phán quyết về đường lưỡi bò trên Biển Đông và sẽ có tác động đến các bên tranh chấp, trong đó có Việt Nam.

Theo các nhà quan sát, phán quyết sắp tới không chỉ tác động đến Philippines và Trung Quốc, mà sẽ có ảnh hưởng trên các nước tranh chấp khác, từ Malaysia, Philippines, cho đến Việt Nam.


Trả lời phỏng vấn của RFI, giáo sư Ngô Vĩnh Long thuộc Đại học Maine ở Hoa Kỳ cho rằng tình huống mới đó sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam vận động quốc tế chống lại ý đồ thôn tính Biển Đông của Trung Quốc.

“Việt Nam cần khéo léo tranh thủ phán quyết của tòa án quốc tế để phá vỡ mưu đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.”

Trước những động thái quyết đoán của Trung Quốc, nhiều tổ chức quốc tế đã chính thức lên tiếng phản đối ý đồ thôn tính Biển Đông của Trung Quốc.

Kết thúc hai ngày hội nghị thượng đỉnh tại Nhật Bản ngày 27 tháng 5 năm 2016, lãnh đạo các nước G7 đã ra tuyên bố chung, trong đó có đề cập đến vấn đề an ninh hàng hải.

Tuyên bố nêu rõ: “Chúng tôi rất quan ngại về tình hình ở biển Hoa Đông và biển Đông, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình”.

“Bất cứ tuyên bố chủ quyền nào cũng đều phải dựa trên luật pháp quốc tế và các nước cần tránh các hành động đơn phương làm gia tăng căng thẳng, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực để tuyên bố chủ quyền”, tuyên bố nhấn mạnh.

Liên minh châu Âu (EU) cũng tuyên bố thống nhất quan điểm với Mỹ về cam kết bảo vệ tự do hàng hải, hàng không ở biển Đông. Đại diện thường trực của Pháp ở cộng đồng Thái Bình Dương nhấn mạnh: “Pháp sẽ hành động khi Trung Quốc vượt ranh giới".

Tại hội nghị đặc biệt ASEAN-Trung Quốc ngày 14 tháng 6 năm 2016, các ngoại trưởng ASEAN khẳng định : « Chúng ta không thể bỏ qua những diễn biến trên Biển Đông vì điều đó là một vấn đề quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc ».

Các nước trong khu vực từ Philippines, Singapore, Indonesia đến Việt Nam, và nhiều quốc gia khác, từ Mỹ, Nhật, Úc, cho đến Đức, Pháp, tất cả đều đã lên tiếng kêu gọi Trung Quốc chấm dứt những hoạt động gây hấn trên Biển Đông và phải tôn trọng phán quyết sắp tới của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye.

Trong khi đó, giới học giả cũng chia sẻ nhiều ý kiến về việc đưa các tranh chấp tại Biển Đông ra tòa án quốc tế. Các hãng thông tấn, các tập đoàn truyền thông thế giới đã tỏ rõ thái độ, lên án mạnh mẽ trước sự leo thang và xem thường luật pháp quốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tuy nhiên, với sự nỗ lực vận động của Trung Quốc một vài quốc gia, nhất là Nga một thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên hiệp quốc có quyền phủ quyết, ủng hộ lập trường của họ tại Biển Đông.

Theo đó, hãng thông tấn Nga Itar TASS ngày 21 tháng 6 năm 2016 dẫn lời ông Denisov nói với báo chí rằng, những cáo buộc Trung Quốc đe dọa tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông không có cơ sở thực tế.

Ngày 21 tháng 6 năm 2016, Thủ tướng Campuchia Hun Sen tuyên bố không ủng hộ phán quyết của PCA.

"Đây không phải là vấn đề về luật pháp, nó hoàn toàn về chính trị. Tôi sẽ không ủng hộ bất kỳ phán quyết nào của tòa", AFP hôm qua dẫn lời thủ tướng Campuchia nói.

Trước đó, Báo Nikkei của Nhật Bản, ngày 29 tháng 5 năm 2016, tường thuật rằng Thủ Tướng Lào Thongloun Sisoulith đưa ra lời kêu gọi đàm phán song phương giữa các nước tranh giành chủ quyền để giải quyết các cuộc tranh chấp Biển Đông

Tuy nhiên, giáo sư Ngô Vĩnh Long, thuộc Đại học Maine ở Hoa Kỳ cho rằng: “Việt Nam cần phải nói đó là vấn đề an ninh khu vực và thế giới, không phải song phương. Trung Quốc lấy đảo của Việt Nam, giết người Việt Nam đúng là dính đến Việt Nam nhưng bây giờ là vấn đề quốc tế.”

“Nếu Việt Nam đưa lý luận này ra trước quốc tế thì theo tôi nghĩ không những được sự ủng hộ của thế giới mà còn làm cho sự manh động của Trung Quốc cũng bớt đi.” RFI dẫn lời giáo sư Ngô Vĩnh Long.

Nhiều chuyên gia cho rằng lời nói và việc làm của Trung Quốc không bao giờ đi đôi với nhau và từ đặc trưng của quan hệ láng giềng giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc, chúng ta nên tranh thủ sự đoàn kết khu vực và quốc tế mới có thể chặn đứng tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Vì chính nghĩa thuộc về Việt Nam.


Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 25 tháng 06 năm 2016

Thứ Tư, 1 tháng 6, 2016

Quan hệ láng giềng và lợi ích Quốc gia



Khi tôi viết bài “Hợp tác với anh em xa, hoà thuận với láng giềng gần” đăng trên mạng xã hội, có không ít ý kiến trái chiều.

Nhiều người cho rằng, quan hệ tốt với hàng xóm, láng giềng là một lối sống tốt đẹp của người Việt Nam từ xưa nay. Đó là tình làng nghĩa xóm, là truyền thống đoàn kết, là tương thân tương ái, được kết tinh trong quá trình lao động, sinh hoạt cộng đồng.

Không ít người thì cho rằng, ngày nay để giữ được mối quan hệ “bình thường” với hàng xóm, láng giềng điều không đơn giản. Mình muốn tốt nhưng người ta không muốn, đôi khi chỉ vì một chút quyền lợi mà cãi cọ, bất hòa, tranh chấp, kiện tụng…

Gần đây, trong quan hệ ngoại giao, người ta thường dùng từ “láng giềng” để nói lên mối quan hệ hữu nghị, gần gũi, gắn kết giữa các nước. Đặc biệt, Trung Quốc đã khái quát thành phương châm “4 tốt”: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Việt Nam - Trung Quốc là hai nước láng giềng đặc biệt, núi liền núi, sông liền sông. Nhân dân hai nước có mối quan hệ láng giềng truyền thống lâu đời. Có sự tương đồng về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội…

Ngày 28 tháng 03 năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu về "tầm nhìn châu Á" đã nhắc lại câu tục ngữ "bán anh em xa, mua láng giềng gần".

Nhưng muốn xây dựng quan hệ láng giềng, bạn bè, đồng chí, đối tác tốt, điều quyết định không phải là lời nói, là khẩu hiệu mà cần phải hành động trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cần có độ tin cậy nhất định.

Sáng ngày 6 tháng 11 năm 2015, phát biểu trước Quốc hội Việt Nam, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nói: "Người thân thì mong người thân tốt, láng giềng thì mong láng giềng tốt. Đã là láng giềng khó tránh xảy ra va chạm, nhưng hai bên cần xuất phát từ đại cục hai nước".

Đặc trưng của quan hệ láng giềng, bạn bè, đồng chí giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã được thể hiện rất rõ trong lịch sử bang giao hai nước.

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước Việt Nam nói ở Paris, “Trong lần tụi tôi dự hội thảo về biển Đông nhưng đã nói rằng Việt Nam và Trung Quốc giờ muốn đổi lại hàng xóm thì đâu có được. Mình không thể thay đổi thực trạng là Việt Nam có một hàng xóm như là Trung Quốc. " Dĩ nhiên, với lịch sử của hàng nghàn năm nay, người Việt Nam biết Trung Quốc như thế nào rồi.”

Thật vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, từ thời Cổ đại cho đến nay, từ các triều đại phong kiến phương Bắc cho đến nay không triều đại nào lại không đưa quân sang xâm lược Việt Nam. Họ đã bằng mọi cách, dốc toàn lực để chống phá, thậm chí còn lôi kéo, kích động các nước láng giềng phối hợp với họ để chống phá Việt Nam.


Đặc biệt, gần đây cộng đồng quốc tế đang bày tỏ quan ngại về những diễn biến ở Biển Đông.

Tiếp xúc cử tri ngày 01 tháng 7 năm 2014, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Biển Đông là vấn đề lớn, quan trọng, hệ trọng, nhạy cảm, được toàn dân và nhiều nước trên thế giới quan tâm, cũng là vấn đề liên quan đến sự ổn định, phát triển của đất nước sắp tới, cũng như việc giải quyết quan hệ với Trung Quốc, “người bạn láng giềng lớn, muốn hay không cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau, có ai chọn được láng giềng đâu”.

Tổng bí thư chia sẻ: “Trong lịch sử đã nhiều lần, ta luôn phải tìm cách chung sống hòa bình, thân thiện, hợp tác, phát triển, đồng thời giữ được độc lập, chủ quyền”, Tổng bí thư nhấn mạnh đây là việc khó.

Thật vậy, xuất phát từ truyền thống đoàn kết, hoà hiếu của dân tộc Việt Nam, như:"Dĩ hòa vi quý", "Một điều nhịn, chín điều lành", "Chín bỏ làm mười"… hay thói quen của cộng đồng trong việc giải quyết tranh chấp là không muốn đưa các tranh chấp ra trước các cơ quan tài phán để phán xử như: "Vô phúc đáo tụng đình", vì không muốn "Vạch áo cho người xem lưng" mà chủ yếu là "đóng cửa bảo nhau".

Nhưng Tổng bí thư cũng chỉ ra: “Ta đấu tranh toàn diện, kết hợp nhiều biện pháp, trên tinh thần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, kiềm chế, không để xảy ra xung đột, chiến tranh, đồng thời giữ được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội...”


“Đây là việc khó khăn, ta phải kiên quyết, kiên trì, bằng nhiều biện pháp, sai một ly đi một dặm, mặt nào không tốt đều ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển đất nước”.

Tổng bí thư tiếp tục nhấn mạnh: "đấu tranh bằng mọi biện pháp hòa bình, kể cả đấu tranh pháp lý, không mong muốn chiến tranh, xung đột xảy ra nhưng phải chuẩn bị tất cả mọi phản ứng."

Sắp tới đây, Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye (Hà Lan) sẽ đưa ra phán quyết về đường lưỡi bò trên Biển Đông và sẽ có tác động đến các bên tranh chấp, trong đó có Việt Nam.

Trả lời phỏng vấn của RFI, giáo sư Ngô Vĩnh Long, thuộc trường Đại Học Maine (Hoa Kỳ), với tư cách là một nước có lãnh thổ và bờ biển dài nhất, tức là có vùng đặc quyền kinh tế rộng nhất trong khu vực, cộng thêm với thực tế là nước chiếm hữu nhiều thực thể địa lý nhất ở quần đảo Trường Sa, Việt Nam cần khéo léo tranh thủ phán quyết của tòa án quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc mình.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long khẳng định: “Phán quyết của Tòa Án Thường Trực lần này nếu định nghĩa rõ ràng là yêu sách đường lưỡi bò không có cơ sở luật pháp và Trung Quốc không được dùng cái “chủ quyền có tự ngàn xưa” này để cản trở lưu thông trên biển và trên không trong khu vực Biển Đông, thì ảnh hưởng sẽ rất tích cực đối với Việt Nam.”


Theo các nhà quan sát, phán quyết sắp tới không chỉ tác động đến Philippines và Trung Quốc, mà sẽ có ảnh hưởng trên các nước tranh chấp khác, từ Malaysia, Philippines, cho đến Việt Nam.

Tuy nhiên, theo Báo Nikkei của Nhật Bản hôm qua, ngày 29 tháng 5 năm 2016 tường thuật rằng Thủ Tướng Lào Thongloun Sisoulith đưa ra lời kêu gọi đàm phán song phương giữa các nước tranh giành chủ quyền để giải quyết các cuộc tranh chấp Biển Đông.

Asia Nikkei Review dẫn lời ông Thongloun nói :“Trong cương vị Chủ tịch ASEAN, Lào sẽ dồn mọi nỗ lực để tạo ra một môi trường thuận lợi cho đối thoại tích cực giữa các nước liên quan.”

Đúng như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lưu ý: “Thời buổi này, ai cũng phải nghĩ đến lợi ích quốc gia dân tộc mình, nên tạo sự ủng hộ của quốc tế cũng cần thực chất, thực lòng.”

Nhưng theo Tờ Nikkei Asian Review dẫn lời cựu Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong: “nên giải quyết tranh chấp thông qua luật pháp quốc tế, kể cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982”.


Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 01 tháng 06 năm 2016

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

Những tràng vỗ tay vang xa hơn nhiều tiếng đại bác



Tổng thống Mỹ kết thúc bài phát biểu kéo dài nửa giờ trong tiếng vỗ tay vang dội của hàng ngàn người. Ông rời đi trong tiếng nhạc rộn ràng của một ca khúc về VN tươi đẹp.

Tổng thống Obama đã đến trong tiếng vỗ tay vang dội của cử tọa.
Ông lên ngay bục phát biểu và mở đầu bằng lời chào tiếng Việt: "Xin chào, xin chào Việt Nam!!!" và liên tục nói cảm ơn.


“Cám ơn những người trẻ tuổi, đại diện cho sự năng động của VN, đã đến đây.”

“Tối qua tôi đã ăn thử bún chả và uống bia Hà Nội. Nhưng phố phường HN đông như thế, tôi chưa từng thấy. Tôi chưa dám qua đường. Có lẽ lần sau trở lại, các bạn sẽ dạy tôi.”

"Không nước nào có thể áp đặt, quyết định số phận thay VN"

Tổng thống Obama dẫn "Nam quốc sơn hà" nổi tiếng của Lý Thường Kiệt trong bài phát biểu ở Trung tâm hội nghị quốc gia: “Sông núi nước Nam vua Nam ở/Rành rành định phận tại sách trời.”

“Khi VN độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ. Không may, chiến tranh Lạnh và sự sợ hãi chủ nghĩa cộng sản đã khiến lịch sử hai nước đớn đau. Ở hai nước, gia đình các cựu chiến binh vẫn còn đau đớn vì những người thân đã mất.”

“Người dân hai nước đang gần nhau hơn bao giờ hết, doanh nghiệp, du học sinh, khách du lịch đều tăng lên. Như nhạc sĩ Văn Cao trong bài hát có lời: "Từ nay người biết yêu người, từ nay người biết thương người".

“Câu chuyện hai nước là bài học cho cả thế giới, rằng trái tim có thể thay đổi, khi ta từ chối làm tù nhân của quá khứ, rằng hòa bình tốt hơn chiến tranh. VN là nước độc lập, có chủ quyền, không nước nào có thể áp đặt, quyết định số phận thay VN.”

“Từ thơ Nguyễn Du, triết học Phan Chu Trinh, toán học Ngô Bảo Châu đều có thể đem ra thế giới. Ở VN và trên thế giới, phụ nữ sẽ có cơ hội phát triển, những phụ nữ là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu.”

“Nguyên tắc là các nước nhỏ hay lớn đều phải được tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ, nước lớn không được bắt nạt nước nhỏ.”

“Hai nước đã từng chiến tranh, giờ chúng ta lại cùng nhau gìn giữ hòa bình thế giới. Mọi việc không phải sau một đêm là có. Có những khó khăn, thụt lùi. Nhưng tôi đứng đây, trước các bạn, rất lạc quan về tương lai của hai nước.”

“Như Trịnh Công Sơn đã viết "Nối vòng tay lớn", người dân hai nước đã mở trái tim mình ra để đến với nhau. Một bác sĩ Việt kiều đã nói với tôi rằng ông đã thực hiện được giấc mơ Mỹ, ông tự hào là người Mỹ và cũng tự hào là người VN. Hôm nay ông có mặt ở đây để trở về giúp đỡ VN.”

“Thế hệ trẻ VN có cơ hội để phát triển đất nước, Hoa Kỳ ở đây để giúp đỡ các bạn, luôn bên các bạn. Sau này khi các bạn cùng người trẻ Mỹ hợp tác, các bạn sẽ nhớ phút này, tôi đứng ở đây.”

Khép lại bài phát biểu trước hàng ngàn người ở Hà Nội, Tổng thống Barack Obama đọc hai câu Kiều như khẳng định lòng tin: "Rằng trăm năm cũng từ đây / Của tin gọi một chút này làm ghi”.
(Trích nguồn VietNamNet ngày 24/5/2016)

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc cho biết trước khi lên chuyên cơ rời Việt Nam vào đầu giờ chiều 25-5, Tổng thống Barack Obama đặt tay lên trái tim mình và nói: “Tôi thực sự xúc động. Tình cảm của nhân dân Việt Nam đã lay động trái tim tôi. Chưa bao giờ tôi thấy gần gũi với Việt Nam như thế”.
(Nguồn Báo NLĐ ngày 25/5/2016)


Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 28 tháng 05 năm 2016

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2016

Chuyến thăm khẳng định lòng tin



Tổng thống Mỹ Barack Obama rời Việt Nam ngày 25/5/2016, nhưng dư âm của chuyến thăm được coi là lịch sử này vẫn còn.

Báo chí Việt Nam và quốc tế vẫn tiếp tục đăng tải các bài bình luận liên quan tới chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama, trong khi trên các trang mạng xã hội, hình ảnh cũng như video về ông Obama vẫn xuất hiện dày đặc.

Xét về động cơ cũng như mục đích, các nhà phân tích chính trị, các học giả, các nhà báo và dư luận xã hội … đã đưa ra nhiều phân tích, nhận định, bình luận và dự báo về nhiều vấn đề liên quan đến chuyến thăm từ nhiều góc độ khác nhau, với những đánh giá khác nhau.

Tuy nhiên, đa số trên các phương tiện truyền thông đều xem chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama có tầm quan trọng đặc biệt, một sự kiện lớn, mang tầm quốc tế, vượt ra ngoài khuôn khổ ngoại giao thông thường, đây là chuyến thăm khẳng định niềm tin của quan hệ song phương Việt Nam-Mỹ,

Đài BBC Việt ngữ hôm 3-5 dẫn nhận định của bà Phương Nguyễn, nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Washington DC (Mỹ) nói rằng “Chuyến thăm này có ý nghĩa quan trọng, vì nó đến vào thời điểm mà cả Mỹ và Việt Nam đã sẵn sàng đưa mối quan hệ song phương lên một tầm cao mới. Để mối quan hệ song phương ngày càng vững chắc, Việt Nam và Mỹ cần liên tục bồi đắp lòng tin chiến lược với nhau.”

Bà Phương Nguyễn nói tiếp: “Chuyến thăm này có ý nghĩa quan trọng, vì nó đến vào thời điểm mà cả Mỹ và Việt Nam đã sẵn sàng đưa mối quan hệ song phương lên một tầm cao mới. Để mối quan hệ song phương ngày càng vững chắc, Việt Nam và Mỹ cần liên tục bồi đắp lòng tin chiến lược với nhau”.

Phó Giám đốc chương trình Đông Nam Á của CSIS, Murray Hiebert cho biết: “Trong chuyến thăm, Tổng thống Obama sẽ tập trung xây dựng mối quan hệ hướng tới tương lai, xây dựng lòng tin, tạo lập một khuôn khổ nhằm duy trì sự tham gia của Mỹ ở nhiều cấp độ khác nhau như hiện nay.”

Nói về cơ hội và thách thức từ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nếu phê chuẩn và thực thi bởi tất cả các thành viên, bà Phương Nguyễn cho rằng đây sẽ là “cú hích” quan trọng thúc đẩy quan hệ kinh tế Mỹ – Việt: “Hiện tại, Mỹ mới chỉ đứng ở vị trí thứ 7 trong các nước đầu tư vào Việt Nam. Có sự mất cân bằng nhất định trong cán cân thương mại giữa Mỹ và Việt Nam, do chủ yếu chỉ có hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ. TPP sẽ tạo điều kiện để các sản phẩm của Mỹ tiếp cận thị trường Việt Nam nhiều hơn. Đặc biệt, TPP hứa hẹn sẽ giúp những công ty khởi nghiệp của Việt Nam tiếp cận thị trường và doanh nghiệp Mỹ”.

TPP sẽ giúp các công ty nhỏ của Việt Nam vươn ra khỏi tầm khu vực và trở thành thương hiệu tên tuổi của thế giới.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc đánh giá về những cơ hội hợp tác kinh tế được mở ra sau chuyến thăm:

“Đáng chú ý nhất là hai bên nhất trí cao lấy hợp tác phát triển làm trọng tâm của quan hệ hai nước trong thời gian tới. Theo đó, sẽ tập trung hợp tác nhiều hơn vào lĩnh vực thương mại, đầu tư, khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, chống biến đổi khí hậu.”

“Tổng thống khẳng định quyết tâm thúc đẩy quốc hội thông qua TPP trong năm 2016; tiếp tục mở cửa thị trường Mỹ cho hàng hóa Việt Nam; xem xét thuận lợi việc nhập xoài, vú sữa.”
(Nguồn Báo NLĐ ngày 25/5/2016)

Người dân chào đón Tổng thống Obama. Ước tính hàng chục nghìn người đứng dọc theo các con phố, giương cao cờ Việt – Mỹ, và mang theo các biểu ngữ như “Welcome Obama. Chúng tôi yêu bạn "(Chào mừng Ong Obama. We yêu quý ông). We love you,” (Chào mừng ông Obama. Chúng tôi yêu quý ông).

Tổng thống Barack Obama khích lệ tuổi trẻ Việt Nam. Ông nói:

“Mỗi khi công du khắp thế giới, nhiệm vụ của tôi là gặp lãnh đạo các nước. Điều này rất quan trọng. Nhưng một trong những phần thú vị trong các chuyến công du là ra khỏi các văn phòng chính phủ và dành thời gian với các bạn trẻ giống như các bạn ở đây”.

“Những dịp như thế này thật thú vị, giúp tôi lạc quan về tương lai vì các bạn luôn tràn đầy năng lượng và luôn nỗ lực mong muốn đưa khu vực lên tầm cao mới. Các bạn khiến tôi tràn trề hi vọng về tương lai ASEAN và tương lai của thế giới”, ông Obama nói.

Khép lại bài phát biểu trước hàng ngàn người ở Hà Nội, Tổng thống Barack Obama đọc hai câu Kiều như khẳng định lòng tin: "Rằng trăm năm cũng từ đây / Của tin gọi một chút này làm ghi”.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc cho biết trước khi lên chuyên cơ rời Việt Nam vào đầu giờ chiều 25-5, Tổng thống Barack Obama đặt tay lên trái tim mình và nói: “Tôi thực sự xúc động. Tình cảm của nhân dân Việt Nam đã lay động trái tim tôi. Chưa bao giờ tôi thấy gần gũi với Việt Nam như thế”.
(Nguồn Báo NLĐ ngày 25/5/2016)

Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 28 tháng 05 năm 2016

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

Hợp tác với anh em xa, hoà thuận với láng giềng gần



Ngày xưa, má tôi thường nói: “Anh em xa, không bằng láng giềng gần”. Đúng vậy, quan hệ láng giềng - cần thiết lắm, hệ trọng lắm. Bởi đó là mối quan hệ gần gũi, gắn kết, đùm bọc, chia sẻ với nhau, không chỉ trong quan hệ họ hàng, thân tộc, mà cao hơn là sự gắn kết cộng đồng hàng xóm láng giềng.

Trong cấu trúc làng xã truyền thống ở Việt Nam, hàng xóm láng giềng là một nhóm gia đình có mối quan hệ trong khu vực cư trú, nó rất gần gũi, thân thuộc. Đó là tình làng nghĩa xóm, là truyền thống đoàn kết, là tương thân tương ái, được kết tinh trong quá trình lao động, sinh hoạt cộng đồng, đã khẳng định giá trị nhân văn trường tồn từ bao đời nay.

Chính vì vậy, mà từ rất xa xưa, ông cha ta đã sớm xây dựng những thỏa thuận, những Quy ước nhằm thống nhất hóa, chuẩn hóa các mối quan hệ xã hội. Nhờ thế mà tránh được những va chạm, mâu thuẫn; củng cố thêm mối quan hệ tốt đẹp hàng xóm, láng giềng.

Gần đây, trong quan hệ ngoại giao, người ta thường dùng từ “láng giềng” để nói lên mối quan hệ hữu nghị, gần gũi, gắn kết giữa các nước. Đặc biệt, Trung Quốc đã khái quát thành phương châm “4 tốt”: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Việt Nam - Trung Quốc là hai nước láng giềng, núi liền núi, sông liền sông. Nhân dân hai nước có mối quan hệ láng giềng truyền thống lâu đời. Có sự tương đồng về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội…

Ngày 28 tháng 03 năm 2014, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu về "tầm nhìn châu Á" đã nhắc lại câu tục ngữ "bán anh em xa, mua láng giềng gần". Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố, các đại dương của châu Á phải trở thành vùng biển hòa bình, đồng thời ông kêu gọi hợp tác an ninh chung toàn diện cho một châu Á bền vững.

Phát biểu tại tọa đàm hữu nghị quốc phòng biên giới Việt - Trung tại Lạng Sơn, Thượng tướng Thích Kiến Quốc, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên hợp Quân ủy Trung ương Trung Quốc cũng nhắc lại: “Anh em xa, không bằng láng giềng gần”

Đặc trưng của quan hệ láng giềng, bạn bè, đồng chí giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc đã được thể hiện rất rõ trong lịch sử bang giao hai nước.

Nhưng muốn xây dựng quan hệ láng giềng, bạn bè, đồng chí, đối tác tốt, điều quyết định không phải là lời nói, là khẩu hiệu mà cần phải hành động trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cần có độ tin cậy nhất định.

Thực ra, ngay từ năm 1965, trong cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã nói: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore … Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản …” (theo sách Sự thật về quan hệ Việt – Trung, của NXB Sự Thật).

Thật vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, từ thời Cổ đại cho đến nay, từ các triều đại phong kiến phương Bắc cho đến nay không triều đại nào lại không đưa quân sang xâm lược Việt Nam. Họ đã dốc toàn lực để chống phá, thậm chí còn kích động các láng giềng đem lực lượng phối hợp với họ để chốnǵ phá Việt Nam.

Những cuộc xâm lược đó được biết đến từ những truyền thuyết xa xưa, như truyền thuyết thời Hồng Bàng, quốc gia Văn Lang của Hùng Vương phải phòng vệ trước sự xâm lược của nhà Ân.

Năm 207 TCN, Tần Thủy Hoàng sai Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc của An Dương Vương, dẫn đến hơn 1.000 năm Bắc thuộc.

Mãi đến năm 938 khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân ta đánh bại giặc Nam Hán, chấm dứt 1.000 năm Bắc Thuộc, mở đầu thời kỳ độc lập.

Một lần nữa người Việt giành được độc lập, tự chủ cho mình, nhưng tham vọng thôn tính của phương Bắc Trung Quốc không chấm dứt trong suốt hơn 1.000 năm tiếp theo, cho đến hiện tại, ông cha ta tiếp tục đứng lên chiến đấu chống lại các cuộc xâm lược từ Nhà Tống, Nhà Nguyên, Nhà Minh, Nhà Thanh cho đến thời cận hiện đại.

Thật vậy, ngày 19 tháng 01 năm 1974, lợi dụng tình hình ở miền Nam Việt Nam và thế giới, hải quân Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trung Quốc bắt 49 lính hải quân Việt Nam Cộng hòa làm tù binh. Sau trận hải chiến đó,Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam cho đến nay.

Ngày 17 tháng 02 năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn bất ngờ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam với tuyên bố đầy tính giang hồ của Đặng Tiểu Bình là để "dạy cho Việt Nam một bài học". Cuộc chiến ấy kéo dài chỉ ba tuần nhưng khoảng 30.000 người Việt thiệt mạng, một số địa phương biên giới phía bắc Việt Nam gần như bị hủy diệt hoàn toàn.

Ngày 14 tháng 3 năm 1988, 9 tàu chiến hải quân Trung Quốc có trang bị pháo hạm và lính thủy đánh bộ bất ngờ tấn công 3 tàu vận tải chở công binh Việt Nam đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền tại quần đảo Trường Sa, khu vực đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma. Trung Quốc đã bắn chìm 3 tàu vận tải và giết chết 64 chiến sĩ Việt Nam.


Ngày 01 tháng 05 năm 2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ở vùng thềm lục địa của Việt Nam, xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và tài phán của Việt Nam. Đây là một bước leo thang mới cực kỳ nguy hiểm của Trung Quốc.


Chưa dừng ở đó, ngay đầu năm, ngày 02 tháng 01 năm 2016, Trung Quốc đã thực hiện việc bay thử nghiệm ra sân bay mà Trung Quốc xây dựng bất hợp pháp trên Đá Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Và mới đây, Trung Quốc lại triển khai hỏa tiễn ở Hoàng Sa. Ngày 12 tháng 04 năm 2016, 2 máy bay chiến đấu Thẩm Dương J-11 của Trung Quốc đã được điều động tới đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam.

Đây lại thêm một bước leo thang nghiêm trọng của Trung Quốc. Và điều đó là một mối đe dọa an ninh khu vực và quốc tế, trong đó có Việt Nam.

Dư luận cộng đồng quốc tế đang bày tỏ quan ngại về những diễn biến gần đây ở Biển Đông; Công luận cần phải có một thái độ mạnh mẽ hơn và đặc biệt cần kêu gọi cộng đồng các quốc gia, các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc, tỏ rõ thái độ rõ ràng, cương quyết hơn và mạnh mẽ hơn trước sự leo thang của Trung Quốc…

Người Việt Nam phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, vì lợi ích quốc gia, dân tộc đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, sản xuất nhiều hàng hóa có chất lượng phục vụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, phồn vinh.

Đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân đã giành lại nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Phát huy đoàn kết toàn dân tộc để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển, đảo đất nước.

Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, đã là người Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước đều phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc, vì lợi ích quốc gia dân tộc, xác định đúng bạn, thù; phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”, “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Người căn dặn chúng ta: “Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của tổ tiên, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người”. Chính Chủ Tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha.

Thường xuyên họp báo, hội thảo quốc tế về biển, đảo; tận dụng tất cả các kênh truyền thông trong nước và quốc tế, báo viết, phát thanh, truyền hình, đặc biệt là các tập đoàn truyền thông quốc tế, kể cả Internet, mạng xã hội để đưa những thông tin lịch sử, khoa học minh chứng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Việc tăng cường tiềm lực quốc phòng là cần thiết để phòng vệ.

Xét từ góc độ địa lý, Trung Quốc là quốc gia láng giềng của Việt Nam, của khu vực Đông Nam Á, và rộng hơn là toàn vùng Đông Á, là một nước lớn, là người láng giềng đặc biệt, là một quốc gia Châu Á có sự tương đồng về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội trong khu vực.

Câu tục ngữ “bán anh em xa, mua láng giềng gần” hay “Anh em xa, không bằng láng giềng gần” để chỉ một lối hành xử trong quan hệ xã hội. Ở đây, là người Việt Nam không ai muốn phải “bán anh em xa”, mà luôn luôn với thiện chí “hợp tác với anh em xa, hoà thuận với láng giềng gần”.




Trần Thành Lập
Viết nhân ngày 01 tháng 05 năm 2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 ở vùng thềm lục địa của Việt Nam

Cần Thơ, ngày 28 tháng 04 năm 2016

Ký ức về một mái trường

Ký ức về một mái trường

Chiến tranh kết thúc, qua rồi một thời đội bom, đạp đạn, tôi được cơ quan cử đi học bổ túc văn hóa. Bỏ lại sau lưng sự tàn khốc của chiến tranh, tôi lại được cấp sách đến trường- Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 Hậu Giang.

Bốn mươi năm, hơn nửa đời người, những ký ức về mái trường xưa lại hiện về, tôi như được sống lại những ngày tháng cũ, những ngày học trò hồn nhiên thơ mộng.

Dù thời gian cứ trôi, dù cuộc sống đã trải qua bao thăng trầm, nhưng nhiều kỷ niệm đẹp về thầy cô, bạn bè trong những tháng năm học tập và rèn luyện dưới mái trường thân yêu vẫn mãi mãi còn đọng lại trong tôi...

Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 Hậu Giang được thành lập năm 1976. Bởi vì sau chiến tranh, nguồn cán bộ rất thiếu và yếu về văn hoá, việc thành lập Trường Bổ túc văn hóa đã thể hiện tầm nhìn và quan điểm mang ý nghĩa chiến lược của nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị nguồn nhân lực trước mắt và lâu dài để xây dựng quê hương.

Gọi là trường Bổ túc văn hóa Công nông vì mục đích đào tạo là nhằm nâng cao trình độ văn hóa (mỗi năm hai lớp) cho cán bộ đã tham gia kháng chiến và con em gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Bên cạnh việc học văn hóa, học viên còn được rèn luyện tính tổ chức kỷ luậ̣t, biết sống hòa đồng trong một tập thể, biết đoàn kết, giúp nhau trong cuộc sống, lao động và học tập, chuẩn bị nguồn nhân lực trước mắt và lâu dài để xây dựng quê hương sau chiến tranh.

Ấn tượng đầu tiên của tôi khi nhìn thấy ngôi trường tọa lạc trên khu đất rộng có 3 tòa nhà một trệt, một lầu (được tiếp quản từ chế độ Sài Gòn) với 40 phòng đáp ứng yêu cầu học ba buổi: sáng, chiều, tối cho học viên. Gần đó, có một thư viện với hàng nghìn đầu sách đủ điều kiện phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu giảng dạy, học tập của thầy cô giáo và học viên.

Khu nhà tập thể với trên 100 phòng (cũng được tiếp quản từ khu gia binh chế độ Sài Gòn) dành cho 400 học viên nội trú. Có nhà ăn tập thể được trang bị đơn sơ phục vụ yêu cầu 3 bữa ăn hàng ngày cho học viên nội trú.

Thời tôi học, mọi thứ còn rất khó khăn. Việc phân phối hàng lương thực, thực phẩm theo kế hoạch: gạo 15 kg/tháng, thịt heo 1 kg/tháng, đường 0,8 kg /tháng, bột ngọt 0,3 kg /tháng, vải mặc 5 m/năm. Riêng chị em nữ được phân phối thêm 1 m vải mùng (bao cấp mà).

Có những lúc quá khó khăn, thầy trò chúng tôi ăn uống kham khổ suốt nhiều tháng liền. Thiếu gạo phải ăn bo bo, bột mì, khoai lang. Thức ăn chủ yếu là cá biển, rau muống nấu với nước lã cho bột ngọt vào làm canh... Vất vả là thế, nhưng thầy trò chúng tôi vẫn sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, tự tin, cố gắng vươn lên dạy tốt, học tốt.

Chúng tôi luôn tự hào, một thời đã được làm học trò của một ngôi trường luôn vượt lên trên mọi khó khăn, thách thức với một đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên tâm huyết, tận tâm, tận lực, chí nghĩa, chí tình “tất cả vì học sinh thân yêu”.


“Không thầy đố mầy làm nên”. Đúng rồi, chính thầy cô đã cho chúng tôi tri thức, chính thầy cô đã dạy chúng tôi đạo lí làm người, chính thầy cô đã để lại tấm gương sáng về không màng danh lợi, không chuộng hư vinh, hết lòng đào tạo nhiều thế hệ học viên đã trưởng thành. Nhiều người đã trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý cao cấp, bác sĩ, nhà giáo, nhà khoa học, doanh nhân thành đạt...

Chúng tôi luôn trân trọng và biết ơn thầy cô giáo, cán bộ quản lý, công nhân viên Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 tỉnh Hậu Giang!

Còn nhiều lắm, nhiều lắm những kỷ niệm về trường xưa… 40 năm nhìn lại, bâng khuâng với những kỷ niệm xưa, nghĩ về sự học ở hiện tại, kỳ vọng về một nền giáo dục trong tương lai!


Trần Thành Lập
Viết nhân 40 năm, ngày thành lập Trường Bổ túc văn hóa Công nông cấp 2-3 tỉnh Hậu Giang

Cần Thơ, ngày 28 tháng 04 năm 2016

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2016

Ký ức 40 năm tổng tuyển cử bầu Quốc hội 25-4-1976



Chiến tranh kết th́úc vào Mùa Xuân năm 1975, non sông đã về một mối, nhưng về tính pháp lý và địa vị quốc tế, ở hai miền vẫn tồn tại hai nhà nước với hai chính phủ khác nhau, đó là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Vì vậy, thống nhất đất nước vừa là nhiệm vụ cấp bách vừa là nguyện vọng thiết tha bậc nhất của toàn thể nhân dân ở cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam, là kỳ vọng lớn lao của cả dân tộc về xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, phồn vinh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Từ kết quả của Hội nghị Hiệp thương chính trị đại biểu nhân dân hai miền Nam - Bắc, Hội đồng bầu cử toàn quốc quyết định tổ chức Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất vào ngày 25-4-1976, theo những nguyên tắc: Phổ thông, bình đẳng, trực tiếp bỏ phiếu kín;

Nhớ lại ngày ấy, Chủ nhật 25/4/1976 là thời khắc quan trọng với những ký ức không thể phai mờ. Với tư cách là một công dân của một quốc gia độc lập, là một cử tri, tôi rất phấn chấn, háo hức khi lần đầu tiên sau chiế́n tranh được cầm lá phiếu trên tay đi bầu Quốc hội. Thực sự tôi đã không giấu nổi cảm xúc vinh dự, tự hào xen lẫn những kỳ vọng lớn lao vào Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất!


Đây thực sự là ngày hội lớn của toàn dân tộc Việt Nam. Trong không khí tưng bừng với cờ hoa, trên 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước, thực hiện quyền tự quyết bầu ra cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam; nhà nước của một dân tộc vừa giành được độc lập, tự do!

Kết quả của Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội càng khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh: “độc lập, tự do của dân tộc chỉ trở lên cao quý khi đó là một nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn và bền vững”. “Độc lập phải gắn với quyền tự quyết của dân tộc, các dân tộc không phân biệt lớn, nhỏ đều có quyền tự quyết định vận mệnh của mình”;

Độc lập dân tộc phải gắn với cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Có như vậy mới mang lại một nền độc lập thực sự, bền vững; độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, dân chủ cho nhân dân, vì theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh: “Nước độc lập mà dân không được hưởng tự do thì độc lập chẳng ý nghĩa gì”.

Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội đã phản ánh đậm nét tính dân chủ nhân dân và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân đã giành lại nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.

Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc; phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người. Chủ Tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “bất kỳ ai mà thật thà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”, “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Người căn dặn chúng ta: “Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của tổ tiên, phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người”. Chính Chủ Tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời của tinh thần đoàn kết, khoan dung, nhân hậu, vị tha.

Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là đến ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV, với tư cách là một công dân, là một cử tri, tôi tin tưởng và kỳ vọng lớn lao vào Quốc hội khoá mới nhanh chóng triển khai hiện thực đầy đủ, có hiệu quả lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và các chủ trương của Đảng:

“Đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc; đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung; xây dựng quan hệ hữu nghị và hợp tác trên tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định và phát triển của đất nước về các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội, hướng tới tương lai tươi sáng của dân tộc”.

Xác định đúng bạn, thù, lấy lợi ích quốc gia, dân tộc là mục tiêu cao nhất!

Như phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Lễ kỷ niệm Ngày 30/4: "Mỗi người chúng ta hãy nêu cao tinh thần dân tộc, không phân biệt quá khứ, vượt lên trên những khác biệt, cùng nhau chân thành hòa hợp dân tộc".


Trần Thành Lập
Viết nhân 40 năm, ngày Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam (25/4/1976-25/4/2016)

Cần Thơ, ngày 22 tháng 04 năm 2016

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2016

Thư gửi cháu nội mới chào đời


Cần Thơ, ngày 09 tháng ̣04 năm 2016

Cháu MiNa bé nhỏ của ông!

Ngày 27 tháng 03, tại bệnh viện Phụ Sản Quốc Tế Phương Châu, TP. Cần Thơ, cả gia đình mình hồi hộp, đợi chờ khoảnh khắc cháu chào đời!

Cháu thật hạnh phúc! Có đầy đủ các thành viên trong gia đình, từ ông bà nội ngoại, cha Hiếu, chú Út Thảo cững chạy xe đạp đến, cả anh hai MiLo đều mong ngóng và chờ đón cháu với tư cách là thành viên mới trong gia đình. Cha Hiếu có vẻ lo lắng, chạy tới, chạy lui lo cho mẹ cháu. Anh hai MiLo thì vui lắm, chạy đùa giỡn khắp nơi.

Mẹ cháu vào phòng sanh khoảng chừng 40 phút sau thì cô y tá bước ra thông báo: Sanh rồi, đúng 7 giờ, con gái, nặng 3,3 kg. Chúc mừng “mẹ tròn, con vuông”!


Cả gia đình vỡ òa trong hạnh phúc, ngập tràn niềm vui khi đón nhận tin “mẹ tròn, con vuông!” Chắc chắng rồi, cha Hiếu và mẹ Yến là những người hạnh phúc nhất. Bà nội thở phào sung sướng, chú Út Thảo thì mừng vui ra mặt!

Thật cảm động, chính bà ngoại là người cho cháu bú giọt sữa đầu tiên đó!
Cháu biết không, cách đây hơn 25 năm, mẹ cháu cũng được sinh ra và lớn lên trong vòng tay của ông bà ngoại. Cháu khó hình dung được ông bà ngoại đã cực khổ thế nào để nuôi mẹ cháu lớn khôn, với tình thương vô bờ bến đã nuôi nấng và dạy dỗ để có mẹ cháu như ngày hôm nay.

Và nay, hàng ngày bà ngoại vẫn đến tấm cho cháu. Đó chính là tình cảm sâu nặng, một ân tình lớn lao mà ông bà ngoại dành cho mẹ cháu.

Do đó, sau này khi lớn khôn, cháu cần phải thể hiện tự đáy lòng mình sự tôn kính, khắc ghi và đền đáp những công ơn to lớn đó!

Còn bà nội thì luôn luôn có tình cảm sâu sắc, dịu dàng, nhân hậu, không ngại khó, ngại khổ, hết lòng yêu thương mẹ cháu và anh hai MiLo.

Ngày ngày, bà nội đều hỏi mẹ cháu muốn ăn gì để bà nội mua. Bà nội lo lắng, chăm sóc cho mẹ cháu chu đáo từ việc ăn uống, đi lại, nghỉ ngơi để hai mẹ con cháu được khỏe mạnh.

Cháu biết không, dù mắt nhìn không tốt lắm, nhưng bà nội vẫn thường xuyên, chịu khó nhặt hết tạp chất trong tổ yến, để chưng cho mẹ cháu ăn.

Thật cảm động, lúc mẹ cháu mang bầu khoảng chừng 5 tháng, nhưng thèm ăn bánh mì xá xíu, dù ngoài trời đang mưa to lắm nhưng bà nội vẫn dầm mưa đi tìm mua cho được bánh mì về cho mẹ cháu.

Trong nhà, anh hai MiLo được bà nội thương yêu nhiều nhất, nhưng cũng là người cực nhất với anh hai MiLo. Thực ra, anh hai MiLo cũng khá ngoan và khỏe mạnh, nhưng đôi khi cũng hơi khó ngủ và biếng ăn.


Thi thoảng, bà nội phải vát trên vai đi từ trước ra sau, từ sau ra trước, vừa đi vừa ru, anh Hai mới chịu ngủ. Khi ăn, thì đôi khi ngồi lâu cả giờ đồng hồ mới xong.

Anh hai MiLo cững khá năng động và tự tin, nên dạy dỗ cũng khá vất vả. Lúc trái gió trở trời thì bà nội lo đến mất ăn, mất ngủ. Cực thì có cực nhưng bà nội vui và hạnh phúc lắm!

Ngày bác sĩ nói cháu được về nhà, cả gia đình vui mừng chào đón cháu với tư cách là thành viên mới trong “tam đại đồng đường”. Với gia đình, cháu là thành viên bé bỏng và xinh đẹp nhất! Đó là điều thật tuyệt vời và hạnh phúc!

Cháu MiNa của ông!

Hơn 60 năm cuộc đời, ông đã từng có rất nhiều chuyện đáng nhớ. Nhưng có lẽ đáng nhớ nhất là trong ba năm về nhà nghỉ hưu ông có được hai cháu nội kháu khỉnh, khỏe mạnh. Ông rất thích anh hai MiLo gọi ông với biệt danh là “ông Ẵm”!

Ông muốn các cháu biết rằng ông bà, cha mẹ sẽ luôn luôn ở bên các cháu, cầu mong các cháu luôn vui, khỏe, chăm, ngoan, học giỏi. Hãy tin lời ông, những điều tuyệt vời sẽ theo bước các cháu!

Cuộc sống mới của các cháu đầy hứa hẹn! Lớn lên, các cháu hãy sống hòa đồng với mọi ngưới, hãy tự tin vào cuộc sống! Hãy luôn luôn thân thiện, luôn luôn quan tâm, luôn luôn cởi mở với tất cả mọi người xung quanh, đặc biệt là với cha mẹ và người thân của các cháu. Gia đình sẽ luôn luôn ở bên các cháu, sẵn sàng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn và yêu thương các cháu hết lòng.

Ông tin rằng, các cháu sẽ hạnh phúc trong cuộc sống, thành công trong công việc!

Nên nhớ, các cháu sinh ra trong một gia đình luôn yêu thương các cháu hết lòng – đừng bao giờ quên điều đó!

Thương các cháu nhiều!


Ông Ẵm
Cần Thơ, ngày 09 tháng ̣04 năm 2016

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016

Cô dượng Hai luôn tin tưởng ở con!



Diệu con!
Cô dượng Hai thương con như anh Hiếu, anh Thảo, nên cô dượng có đôi lời chia sẻ cùng con.

Ông, bà, Cha, mẹ con và gia đình rất vui, tự hào vì con ngoan và học giỏi! Con cũng đã thực sự trưởng thành, có công ăn việc làm, độc lập suy nghĩ và hành động, có ý thức và trách nhiệm với bản thân, công việc và gia đình.

Theo dượng Hai, ý thức trách nhiệm với công việc là cần thiết, nhưng mái ấm gia đình cũng hết sức quan trọng. Trong sinh hoạt gia đình, quan trọng nhất là bữa cơm. Ở gia đình mình hiện tại có ba thế hệ sống chung: ông, bà nội, ba, mẹ và con.

Dù đi đâu, làm gì mọi người cũng nên về cùng ăn bữa cơm gia đình, nhất là bữa cơm chiều. Đây vừa là cái nôi, vừa là mái ấm, vừa là trường học cho mọi thành viên trong gia đình. Việc kể chuyện vui buồn và việc quây quần quanh mâm cơm là hơi ấm cho hạnh phúc gia đình…

Rồi có thể cuối tuần hay nhân dịp lễ, con mời ông bà ngoại, cậu mợ Quang gặp gỡ nhau vừa ăn uống vui vẻ, vừa chia sẻ niềm vui, nổi buồn vừa động viên con cháu học tập và rèn luyện nhân cách!

Con còn hạnh phúc hơn có một gia đình, đại gia đình. Còn có đủ Ông, Bà nội, ngoại. Đó là Phúc đức rất lớn của con! Dù ông, bà đã lớn tuổi, sức khỏe không được tốt lắm. Nhưng ông, bà vẫn rất thương con! Dượng Hai đã tận mắt chứng kiến những giọt nước mắt của bà nội nhớ con khi con đi xa nhà, bởi vì ông, bà chỉ có mình con là cháu nội thôi!

Theo ý dượng Hai, để bày tỏ lòng biết ơn công đức sinh thành dưỡng dục, con nên dành thêm nhiều tình cảm hơn để yêu quý, biết ơn ông bà, cha mẹ. Hãy dành chút ít thời gian quan tâm, thâm hỏi, chăm sóc và hiếu thảo với ông bà, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của Ông, Bà, cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.!

Diệu con!
Những ngày đầu mới đi làm, công việc, quan hệ đồng nghiệp không như những gì mình học ở trường, mọi việc còn bỡ ngỡ với con. Dượng Hai tin là rồi từ từ con cũng sẽ quen thôi!

Có điều, dượng khuyên con nên cố gắng, khiêm tốn học hỏi thêm kiến thức nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn trong công việc, phương pháp quản lý và cách ứng xử với đồng nghiệp, ít nhiều gì thì việc rèn luyện đó cũng có ích cho chúng ta.

Ai cũng vậy, muốn thành công phải có niềm đam mê, lòng kiên trì và sự tận tâm trong công việc mình làm. Để làm việc có hiệu quả, con cần biết cách đối xử với đồng nghiệp sao cho không quá khép kín. Quan hệ cởi mở sẽ gây được thiện cảm của những người chung quanh, hiệu quả công việc sẽ tốt hơn.!

Cô dượng Hai mừng vì con đã có bạn trai. Mừng vì bạn con cũng học hành tử tế, có công ăn việc làm ổn định. Cô dượng Hai tin, bạn con là người tốt, có tư cách, đạo đức, phẩm chất, nhân cách phù hợp với con! Nhưng cũng nên tìm hiểu thêm.

Và khi quen thân với bạn, con nên tìm hiểu thêm hoàn cảnh, nề nếp sinh hoạt gia đình của bạn để có cách ứng xử cho phù hợp. Và chú ý cả đến cách ứng xử của bạn mình với ông, bà, cha, mẹ và gia đình mình.

Dù con phải yêu, phải có gia đình nhưng đừng bao giờ quên bổn phận của con với ông bà nội, ngoại và cha, mẹ của con!


Cô dượng Hai mong con luôn vui vẻ, khỏe mạnh, hạnh phúc, có trách nhiệm với gia đình, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống!


Cô dượng Hai luôn tin tưởng ở con!



Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 18 tháng ̣02 năm 2016



Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Ngày 17/2 đánh dấu 37 năm Chiến tranh biên giới Việt - Trung



Cuộc chiến đẫm máu diễn ra vào tháng 2/1979 khi Đặng Tiểu Bình cho quân đánh sáu tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.
Cuộc chiến kéo dài chỉ ba tuần nhưng khoảng 30.000 người Việt được ghi nhận thiệt mạng.

Và mới đây, Trung Quốc lại triển khai hỏa tiễn ở Hoàng Sa. Đây lại thêm một bước leo thang nghiêm trọng của Trung Quốc. Và điều đó là một mối đe dọa an ninh khu vực và quốc tế, trong đó có Việt Nam,

Cho nên công luận cần phải có một thái độ mạnh mẽ hơn và đặc biệt cần kêu gọi cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc, tỏ rõ thái độ rõ ràng, cương quyết hơn và mạnh mẽ hơn... trước sự leo thang của Trung Quốc…


Nhân Ngày 17/2 đánh dấu 37 năm Chiến tranh biên giới Việt – Trung, xin đăng lại một số tư liệu được tổng hợp từ BBC:

Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 17 tháng ̣02 năm 2016

-------------


Đặng và Hứa 'khai đao' ngày 17 tháng 2

Nhân kỷ niệm cuộc chiến 1979, BBC tổng hợp lại một số tư liệu tiếng Anh về bối cảnh và bài học của cuộc xung đột này:

Sau chiến thắng 1975, miền Bắc Việt Nam đã chọn ưu tiên chiến lược là Liên Xô xa xôi và xa dần kẻ thù lịch sử, láng giềng Trung Quốc, theo bài trên Bách khoa Toàn thư Anh Quốc, Britannica, mục về Việt Nam.

"Với thành công nhanh chóng trong chiến dịch bài Hoa, đuổi đi giới thương nhân gốc Hoa, Việt Nam còn mở vịnh Cam Ranh cho hải quân Liên Xô vào, và ký kết Hiệp ước hữu nghị với Moscow.

"Quân đội Việt Nam cũng đã xâm chiếm Campuchia để trục xuất quân Khmer Đỏ.

"Rất sớm sau khi Đặng Tiểu Bình có chuyến thăm được ca ngợi tới Mỹ, Bắc Kinh đã tuyên bố ý định trừng phạt Việt Nam vào tháng 2 năm 1979."

Reg Grant, trong một cuốn sách về Chiến tranh Việt Nam đã đặt xung đột Trung - Việt vào nhóm các cuộc chiến mới nảy sinh ở vùng Đông Dương sau 1975.

Cuộc chiến Biên giới 1979 là hệ quả của chiến tranh Campuchia, khi xung đột nhỏ lẻ ở vùng biên giới với Việt Nam nổ ra vì các cuộc tập kích của Khmer Đỏ.

Theo tác giả này, các diễn biến ở biên giới khiến Việt Nam "đưa quân xâm lược Campuchia toàn diện vào Giáng Sinh 1978, và đến 7/01/1979 thì chiếm Phnom Penh và thiết lập một chính phủ mới".

"Quân Khmer Đỏ bị đẩy ra khỏi các đô thị và tiếp tục quấy nhiễu quân Việt Nam ở các tuyến dọc biên giới Thái Lan."

"Trung Quốc là nước hỗ trợ chính cho chế độ Pol Pot. Ngày 17/02/1979, Trung Quốc tung quân xâm lược Việt Nam. Họ không muốn chiếm nước này mà chỉ muốn ngăn sự hung hãn của Việt Nam."

"Nhưng quân Trung Quốc không thể nào tiến được trước sức chống trả bền bỉ của phía Việt Nam và đến ngày 6/3/1979, họ phải rút quân về."

Các bên cùng thất bại
Theo Britannica, cuộc chiến Trung - Việt diễn ra khi Hoa Kỳ, dưới thời Tổng thống Jimmy Carter, đã ủng hộ Trung Quốc, một phần vì dư âm của sự thù ghét với Bắc Việt sau chiến tranh.
Liên Xô đáp trả với lời đe dọa chống lại Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng không thắng được lực lượng dân quân biên giới của Việt Nam.

Sau ba tuần với những trận giao tranh dữ dội, Việt Nam tuyên bố gây ra con số 45,000 thương vong cho phía Trung Quốc và Trung Quốc đã rút quân.


Chính sách của Mỹ đem lại hậu quả tiêu cực.
"Uy tín quân đội chính quy của Trung Quốc bị phá tan, Campuchia vẫn ở lại trong phe Liên Xô-Việt Nam, và các chiến thuật sử dụng lá bài Trung Quốc của Hoa Kỳ trở nên vô duyên," Britannica viết.
Với Trung Quốc, một mục tiêu của việc phát động cuộc chiến đánh vào đồng minh của Liên Xô còn là nhằm để chia rẽ Washington và Moscow.

Nhưng trái với mong đợi của Bắc Kinh, chiến tranh biên giới Việt-Trung cũng không ngăn được cuộc gặp Mỹ- Xô được lên kế hoạch từ trước đó, cũng như việc kí kết Hiệp ước hạn chế vũ khí tấn công chiến lược lần thứ hai (SALT II).

Đàm phán đã đi đến thỏa thuận ở Vladivostok và cuối cùng hai bên cũng đi đến bản Hiệp ước dự thảo.
Quá trình hòa hoãn Liên Xô và Mỹ chỉ ngưng lại khi Moscow đưa quân vào Afghanistan, bắt đầu một cuộc dính líu quân sự mới cho tới khi Liên Xô tan rã.

Còn Hà Nội sau cuộc chiến lại càng phụ thuộc vào Moscow cho tới khi Liên Xô sụp đổ, với các hệ luỵ về thể chế cho nước Việt Nam cộng sản.

Bài học cho Trung Quốc
Riêng với Trung Quốc, đây là cuộc chiến lớn nhất về mặt quân sự kể từ Chiến tranh Triều Tiên.
Và bài học Bắc Kinh có thể rút ra thì rất nhiều, theo một tác giả gốc Trung Quốc, Zhang Xiaoming.


Trong bài trên The China Quarterly 2005, ông xác định qua các tài liệu Trung Quốc rằng Đặng Tiểu Bình là nhà lãnh đạo cổ vũ cho chuyện tấn công để "dạy cho Việt Nam một bài học".

Dù Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, gồm cả Hoa Quốc Phong không phản đối, nhưng ban lãnh đạo Trung Quốc cũng không hoàn toàn đồng thuận về cách dùng quân của ông Đặng.

Rốt cuộc, người ủng hộ rõ nhất cho Đặng là Trần Vân, nhân vật kỳ cựu trong Đảng.

Nhưng Zhang Xiaoming cho rằng chính Trung Quốc "mới là bên nhận một bài học".

Ông Đặng bỏ qua cơ chế chỉ huy bình thường, và trực tiếp giao cho Hứa Thế Hữu tấn công từ phía Đông (Quảng Tây), và điều động Dương Đắc Chí, từ quân khu Vũ Hán (miền Trung Trung Quốc) xuống chỉ huy cánh quân phía Tây từ Vân Nam đánh vào Việt Nam.

Ông Đặng, bắt chước Mao Trạch Đông, đã trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến và chỉ 'tham vấn trước' với một số nhân vật lão thành trước khi đưa ra một cuộc họp kéo dài 5 tiếng ở Bộ Chính trị.

Đặng học cách 'trực tiếp cầm quân' của Mao khi ra lệnh đánh Việt Nam năm 1979
Ông cũng bỏ qua vai trò của tư lệnh quân khu Côn Minh, tướng Vương Tất Thành.

Quyết định này của Đặng Tiểu Bình có hệ quả nghiêm trọng cho quân Trung Quốc: vì thiếu phối hợp hai cánh quân, họ bị tổn thất nặng nề, theo Zhang Xiaoming.

Đến giữa tháng 1/1979, chừng 320 nghìn quân Trung Quốc đã tập kết ở các tuyến dọc biên giới Việt Nam.

'Dùng dao mổ trâu chém gà'
"Cách dụng binh của Hứa Thế Hữu là "dùng dao mổ trâu chém gà" (niudao shaji - ngưu đao sát kê) tấn công tổng lực và toàn diện vào mọi điểm phòng vệ của Việt Nam."

Mục tiêu của chiến dịch "phản kích tự vệ" - cách Trung Quốc chuẩn bị dư luận trong và ngoài nước về cuộc xâm lăng - là nhanh chóng "tiêu hao sinh lực địch".


Trung Quốc đưa 9 quân đoàn đánh xuyên biên giới và huy động cả hơn 200 nghìn dân Quảng Tây phục vụ chiến dịch, trong đó 26 nghìn dân quân tham chiến trực tiếp, theo Zhang Xiaoming.

Tại một số mặt trận như ở Cao Bằng, tỷ lệ quân Trung Quốc so với lực lượng Việt Nam là 8:1.
Nhưng tổn thất của phía Trung Quốc là rất lớn.

Bài của Zhang Xiaoming nhắc lại rằng Trung Quốc từng nói họ giết và làm bị thương 57,000 quân Việt Nam, còn Đài Tiếng nói Việt Nam vào thời gian đó nói họ giết và làm bị thương 42,000 quân Trung Quốc.
Nhưng theo tác giả này, các nghiên cứu được cập nhật (cho đến 2005) tin rằng số quân Giải phóng Nhân dân TQ bị giết trong cuộc chiến là 25 nghìn, và số bị thương là 37 nghìn.


Ngay cả con số Bắc Kinh thừa nhận (6700 tử sĩ và 15000 thương binh) cũng đưa số thương vong lên 21 nghìn, trên tổng quân số chừng 300 nghìn tham chiến, một tỷ lệ rất cao.

Trung Quốc đã tổng kết, rút ra nhiều bài học về chiến thuật, về thông tin liên lạc, vũ khí.

Dù vậy, Zhang Xiaoming cho rằng vẫn có một bài học Trung Quốc chưa rút ra từ cuộc chiến với Việt Nam.

"Vì bị ảnh hưởng của tư tưởng Mao, coi chiến tranh là 'sự nối dài của mục tiêu chính trị', Trung Quốc vẫn chưa đánh giá lại xác đáng về chiến thắng hay thất bại nhìn từ góc độ quân sự thuần tuý."

Cuộc chiến 1979, nhìn từ phía Trung Quốc, là cách Bắc Kinh phản ứng lại sự bành trướng ra Đông Nam Á của Hà Nội, và cũng là cách ngăn chặn tham vọng toàn cầu của Moscow, theo Zhang Xiaoming.

Và đây có thể là bài học lớn nhất cho các quốc gia trong vùng đang tiếp tục có các tranh chấp trong một bối cảnh địa chính trị mới như ngày nay.

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Tết về, con lại nhớ má!


Gió bấc về, tiết Xuân dịu dàng se lạnh vào mỗi sáng và nhà nông cũng vừa gặt xong vụ mùa, tát đìa, bắt cá. Ai ai cũng đều lo sửa sang, quét vôi nhà cửa, lau chùi bàn thờ, đánh bóng lư đồng…là không khí Tết bắt đầu.

Tết về, con lại nhớ má!


Tôi nhớ nhất là gần đến Tết, má đi chợ mua cho chị em tôi mỗi người một đôi dép, hai bộ quần áo mới để mặc đi thăm viếng ông, bà và để mặc cả năm.

Giáp Tết, má và chị em tôi tổ chức đi tảo mộ, tu chỉnh lại mộ phần tổ tiên với đạo nghĩa uống nước nhớ nguồn, sự tận nghĩa, hiếu hạnh, thành kính với tổ tiên, ông bà. Chiều 23 tháng chạp nấu mâm cơm cúng đưa ông Táo về trời.

Gần Tết là má tôi tất bật lo chuẩn bị gạo nếp, đậu xanh, mỡ, thịt để nấu bánh tét, bánh ít nhân dừa, nhân đậu.


Trưng bày trên bàn thờ tổ tiên cặp dưa hấu, cặp rượu; mâm ngũ quả với các loại trái cây: mãng cầu, dừa xiêm, đu đủ xanh, xoài, đó là một điều ước lành cho cả năm: "Cầu vừa đủ xài ".

Chiều 30 Tết, những người thân trong gia đình tề tựu đông đủ làm lễ "rước ông bà". Sau đó cả nhà cùng ăn uống, trò chuyện và điểm lại những công việc của năm đã qua.

Tôi yêu cái cảm giác được cùng gia đình quây quần bên mâm cơm bốc khói, vừa thưởng thức những hương vị thơm ngon của món canh chua cá lóc do má nấu. Ăn canh chua cá lóc, nhấm nháp vị chua đặc trưng của me hòa lẫn vị thơm thơm bùi bùi của thịt cá lóc, vị thơm ngọt ngào của rau thơm, rau quế, vị mặn mà của nước mắm nguyên chất của quê hương.

Tết, tôi thích nhất là nồi thịt kho với hột vịt do má nấu. Thịt ba rọi nửa nạc nửa mỡ, nước thịt trong ngần vương lớp mỡ trong veo, miếng thịt thơm, mềm mà không ngấy mới ngon. Nồi thịt kho ngon để nửa tháng vẫn còn thơm lừng. Món này ăn với cơm trắng và dưa giá rất ngon.

Năm nào cùng vậy, cứ ngày mùng một Tết là anh chị em chúng tôi về nhà để đón Tết cùng ba má. Con cháu về đông đủ, má tôi mừng ra mặt. Ngày Tết là ngày ba má, gia đình tôi vui vẻ nhất. Các anh, chị, em chúng tôi đều tề tựu đông đủ để vui Xuân, đón Tết cùng gia đình. Đây cũng là dịp con cháu sum họp gia đình, vừa ăn uống vui vẻ, vừa chia sẻ niềm vui, nổi buồn, vừa động viên con cháu học tập và rèn luyện nhân cách.


Hạnh phúc nhất, vui vẻ nhất trong những ngày Tết có lẽ là được ông bà, ba má lì xì, chúc phúc̀. Rồi các cháu, các con xúm lại quanh ba má tôi để mừng tuổi ông bà. Niềm hân hoan, niềm vui lúc này dâng trào nơi khoé mắt má tôi.

Má ơi! Tết này, con càng nhớ má nhiều hơn, đây là cái Tết thứ năm gia đình không có má. Con không tin là má đã đi xa thật rồi mà vẫn ngỡ má vẫn còn đó, không tin thời gian đã 5 năm mà chỉ ngỡ mới ngày hôm qua thôi.

Đã có lần con nằm mơ thấy má về. Má chỉ cười và vò đầu con thôi, con ước một lần được nằm mơ thấy má thật trọn vẹn. Má hãy về trong giấc mơ của con dù chỉ một lần thôi!

Thắp nén nhang, con nguyện cầu má sớm siêu thoát! Phù hộ, độ trì cho các con, các cháu khỏe mạnh, hạnh phúc, chăm ngoan, học giỏi, thành đạt!


Trần Thành Lập
Viết nhân Tết Bính Thân

Cần Thơ, ngày 08 tháng ̣02 năm 2016

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Ký ức về một Liên bang Xô viết


Cách nay hơn một phần tư thế kỷ, tôi rất may mắn vì được sống và học tập ở Liên Xô. Tôi đã rất tự hào về một Liên bang Xô viết thịnh vượng, là thành trì của hòa bình thế giới.

Những thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, xã hội… để lại làm nền tảng vững chắc cho những bước phát triển mạnh mẽ của nước Nga hiện nay và cả mai sau.


Tôi luôn cảm nhận rằng đất nước Liên Xô rất vĩ đại, đất nước Nga ngày nay cũng vậy. Trải qua những biến cố, thăng trầm của lịch sử, nước Nga vẫn đứng vững và phát triển.

Tôi rất khâm phục tinh thần yêu nước của nhân dân Nga, ý chí và lòng tự tôn dân tộc, kiên cường vượt mọi khó khăn, thử thách.

Bà mẹ Nga cũng giống như mẹ Việt Nam, hiền lành, đôn hậu, nhân ái, sẵn sàng sẻ chia mẩu bánh cuối cùng của mình cho bạn bè trong lúc khó khăn.

Cho đến tận bây giờ tôi vẫn đau đáu về nước Nga, về Bà mẹ Nga - Đó là vì ở trên đất Liên Xô khi ấy tôi đã được sống, được bao bọc trong tấm lòng nhân hậu của người Nga, được nhận tình cảm nồng ấm từ bạn bè, và trong sự dạy dỗ của thầy cô giáo.

Rồi bỗng một ngày, ngày 25-12-1991, tôi bàng hoàng, không hiểu chuyện gì đang xảy ra, khi xem TiVi, thấy Mikhail Sergeyevich Gorbachev đọc diễn văn từ chức. Giọng Ông hơi lạc đi vì xúc động:

“ Kính thưa toàn thể nhân dân ”

“ Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này.

Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm”.


Khi bình tâm lại, tôi nhận ra rằng: Đúng rồi, chuyện gì đến rồi cũng sẽ đến

Một quốc gia đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như xác nhận trong diễn văn từ chức của Mikhail Sergeyevich Gorbachev “ hệ thống toàn trị đã ngăn chận một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể. ”

Ông nêu nguyên nhân: “Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng.

Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa .”

Hẳn nhiên, có nhiều lý do thuộc về cơ chế – kinh tế, chính trị, xã hội – cho biết tại sao Liên Xô phải sụp đổ như nó đã sụp đổ; tuy nhiên, những lý do này không thể giải thích đầy đủ biến cố này diễn ra như thế nào và diễn ra khi nào.

Gorbachev đã nói như thế trước Ủy ban Trung ương Đảng trong phiên họp tháng Giêng 1987, “chúng ta không thể tiếp tục như thế thêm nữa, và chúng ta phải triệt để thay đổi lối sống, dứt khoát với những sai trái trong quá khứ”

Còn theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nikolai Ryzhkov, “tình trạng đạo lý của xã hội Liên Xô là nét đặc trưng “hãi hùng nhất”

“Chúng ta ăn cắp từ chính bản thân của chúng ta, nhận và đưa hối lộ, láo khoét trong các báo cáo, trên báo chí, láo khoét từ các diễn đàn cấp cao, đắm mình trong láo khoét, rồi trao huân chương cho nhau. Và tất cả những điều này đã diễn ra – từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên”

Nhiều năm về sau, Mikhail Sergeyevich Gorbachev trả lời phỏng vấn như sau: Mô hình Xô-viết không những bị đánh bại trên bình diện kinh tế và xã hội; nó bị đánh bại ngay trên bình diện văn hóa.

Ông khẳng định “Xã hội chúng ta, nhân dân chúng ta, những người có học vấn nhất, những người có trí thức nhất, đã bác bỏ mô hình ấy trên bình diện văn hóa vì nó không tôn trọng con người, nó đàn áp con người về mặt tinh thần lẫn chính trị.”

Gorbachev nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “ xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần”.

Lịch sử nước Nga có biết bao biến cố thăng trầm, yêu nước Nga, Bà mẹ Nga, tôi vẫn luôn tin tưởng đất nước và con người Nga vẫn đứng vững và phát triển.



Trần Thành Lập
Viết nhân 25 năm, ngày xa Liên bang Xô viết
Cần Thơ, ngày 25 tháng 12 năm 2015

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

Dấu ấn về một ngôi trường của tỉnh Hậu Giang


Nhận thức rõ nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhiều năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Hậu Giang đã thực hiện nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo bước đột phá để góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển nhanh và bền vững.

Khi mới thành lập, tỉnh Hậu Giang, nơi luôn bị đánh giá là vùng trũng về giáo dục trong cả nước, là một trong những tỉnh khó khăn nhất về cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng. Hầu hết những trường có phòng học tạm đều là những ngôi trường “4 không”: không điện, không nước, không nhà vệ sinh, không sân chơi. Tôi thường nói vui “giáo dục tỉnh Hậu Giang tay không bắt giặc”.

Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Tỉnh ủy Hậu Giang đã ban hành Nghị quyết về “Phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2005 - 2010 và định hướng đến 2015”.

Đảng bộ, chính quyền tỉnh Hậu Giang luôn xác định một trong những giải pháp quan trọng, là khâu đột phá hàng đầu cần tập trung đầu tư, chỉ đạo, thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo động lực quan trọng để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

Dù ngân sách khó khăn, nhưng địa phương vẫn quyết định đầu tư xây dựng Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang nhằm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển.

Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang được thành lập theo Quyết định số 4128/QĐ-BGD&ĐT ngày 01/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở nâng cấp trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Hậu Giang. Trường là cơ sở đào tạo công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang và được giao nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh Hậu Giang nói riêng và cả vùng ĐBSCL nói chung.

Tổng kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất của trường (giai đoạn 1) là hơn 330 tỷ đồng, tính đến nay đã có 02 giảng đường 200 chỗ ngồi, 35 phòng học kiên cố, có trang bị đầy đủ máy chiếu và các trang thiết bị phục vụ giảng dạy cần thiết, một thư viện hơn 2000 m2, 04 phòng thí nghiệm cho khoa Y- Dược, 02 dãy Ký túc xá 5 tầng đáp ứng cho 940 chỗ ở nội trú, hệ thống máy tính làm việc của các đơn vị, phòng máy tính đều được kết nối mạng Internet. Hiện tại, nhà trường đang được đầu tư xây dựng khu nhà học khoa Tài chính kế toán với 18 phòng học và các phòng chức năng, dự kiến sẽ đưa vào sử dụng trong năm học 2015-2016.

Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên tăng cả về số lượng lẫn chất lượng; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cũng được chú trọng đầu tư và đang từng bước được chuẩn hóa là tiền đề quan trọng để sự nghiệp giáo dục Hậu Giang phát triển bền vững.

Qua 10 năm xây dựng và phát triển, với sự phấn đấu bền bỉ, sáng tạo, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang không ngừng vững mạnh, khẳng định mình một cách toàn diện để xứng đáng là trường trọng điểm chất lượng cao của tỉnh. Chất lượng đào tạo các chỉ tiêu cho tỉnh như ngành sư phạm luôn giữ vững ở tỉ lệ đỗ đạt cao. Tỷ lệ tốt nghiệp các khóa đạt từ 80 đến 90% nhiều thế hệ học sinh đã vào đời tạo nghiệp vững vàng, nhiều học sinh đã thành đạt, thành danh đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước.

Từ khi thành lập cho đến nay, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang luôn là địa chỉ đào tạo đáng tin cậy của học sinh và phụ huynh trong toàn tỉnh. Trường được Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hậu giang đánh giá cao trong sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước. Qua hơn 10 năm hình thành và phát triển, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang vừa xây dựng cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy vừa mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo. Thông qua hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu - phát triển khoa học công nghệ và các hoạt động văn hoá xã hội khác, nhà trường từng bước sẽ khẳng định vai trò như nhân tố động lực quan trọng không thể thiếu trong các nổ lực thúc đẩy sự tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Quá trình hình thành và phát triển của trường Trường Cao đẳng Cộng đồng gắn liền với sự nghiệp xây dựng và phát triển của tỉnh Hậu Giang, đồng hành với các cơ sở giáo dục trong tỉnh phát triển giáo dục, góp phần phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương, thực hiên tốt quan điểm của Hồ Chí Minh: “ Vì sự nghiệp mười năm trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm trồng người”.



Trần Thành Lập

Viết nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang

Cần Thơ, ngày 24 tháng 11 năm 2015

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

Nhớ Ba


(Bài đăng lại)
Gần đến ngày giỗ của Ba. Vậy mà đã 15 năm rồi Ba đi xa. Với con, chuyện như vừa xảy ra hôm qua. 15 năm, lúc đó con không còn nhỏ, đủ để hiểu mất mát ấy lớn thế nào! Đến nay, con vẫn chưa tin rằng, con đã vĩnh viễn mất Ba!

Tôi sinh ra trong một gia đình ở vùng quê nghèo. Lúc tôi còn nhỏ xíu xiu, thì ba tôi đã đi làm cách mạng. Mỗi khi nghe tiếng bom rền ỏ chân trời Tây, thì lại lo sợ cho Ba, cô Út và Chế tôi.


Năm tháng trôi đi nhưng hương vị của món canh rau tập tàng từ ngọn bí, rau bồ ngót, rau dền cơm, mồng tơi, do Ba trồng nấu với tép lột ăn với cá bống dừa kho tiêu, do Ba ṭôi bắt là món ăn khoái khẩu luôn gắn liền với tuổi thơ tôi.

Ngay từ khi còn nhỏ, chị em tôi đã được ba má dạy rằng: chị em các con phải biết quan tâm, thương yêu, giúp nhau trong cuộc sống; khiêm tốn, lễ phép, lịch sự với mọi người; biết tôn trọng các chuẩn mực của xã hội về lẽ phải, về cái thiện trong các mối quan hệ, trong cuộc sống!

Ba tôi là người sống có tình cảm, có trách nhiệm với các con! Dù ở xa, dù bận nhiều việc nước, chiến tranh hay hòa bình, lúc nào cũng quan tâm đến các con. Tết, ba tôi không về, viết thư cho má và các con:

"Riêng Hồng, Tỷ, Lập, Nghiệp, Sở, Bằng và Tổng, Thúy,
Ba mừng các con một tuổi lớn khôn hơn!"

Ba tôi dạy, sống phải luôn có kỷ luật, triệt để tôn trọng quy định chung. Gửi thư cho Má, Ba tôi dặn:

"Lúa mùa nay đã gặt xong chưa
Trả nợ nần nhưng nhớ phải chừa
Đóng đảm phụ yêu cầu đúng mức"

Chỉ vậy thôi cũng đủ thấy Ba tôi là người luôn tôn trọng kỷ cương, phép nước không nhận bất cứ một ngoại lệ, một đặc quyền nào cho riêng mình.

Năm 16 tuổi, má đưa tôi vào chiến khu, theo ba tham gia cách mạng.

Chiến tranh vẫn ác liệt, trước khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam. Lấn đất, giành dân, bom cày, đạn xới, bom chồng hố bom, nhằm hủy diệt sự sống bằng vũ khí tối tân, hiện đại.

Ở chiến khu, dù khó, khăn vất vả, Ba vẫn tranh thủ đến thăm Cô Út, chế Hai và tôi. Có lần vì cảm lạnh, Ba ho nhiều. Thương Ba quá Cô Út và tôi bò đến gần đồn Vĩnh Hưng tìm cây thuốc dòi về sắc cho Ba uống.

Nhớ lại những tháng năm tôi học ở Liên Xô, Ba thường xuyên gửi thư động viên tôi tập trung học tập và rèn luyện thật tốt để sau này về phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân...

Ba ơi! Các con, cháu đều đã trưởng thành, là những người sống có ích cho xã hội. Ba hãy tự hào về con cháu của Ba! Ở đâu đó, hãy chứng kiến và mỉm cười với những gì con cháu Ba đã làm.

Thắp nén nhang, con nguyện cầu Ba sớm siêu thoát! Phù hộ, độ trì cho các con, các cháu khỏe mạnh, hạnh phúc, chăm ngoan, học giỏi, thành đạt!

Viết những dòng này vào mùa Vu Lan, xem ti vi thấy những bông hồng cài áo, những giọt nước mắt nhớ Ba... Tim tôi se lại!


Trần Thành Lập
Viết nhân 15 năm ngày giỗ Ba, mùa Vu Lan

Cần Thơ, ngày 15 tháng ̣9 năm 2015

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

Để vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển năng động, bền vững



Đồng bằng sông Cửu Long có tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, thực phẩm, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản, cây ăn trái, sản xuất mía đường không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mà còn đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho cả nước.

Theo số liệu thống kê, Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp khoảng 18,5% GDP của cả nước, 55,6% sản lượng lúa, trên 50% sản lượng trái cây, 54% sản lượng thủy sản, 35% sản lượng đường tinh luyện, 90% sản lượng gạo xuất khẩu và gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước...Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 7,9 tỷ USD, xuất khẩu gạo đạt gần 2,8 tỷ USD.

Đó là những đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng sự phát triển kinh tế toàn vùng chưa thực sự vững chắc, còn quá nhiều khó khăn.

Theo PGS.TS. Võ Văn Sen, Hiệu trưởng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, đặt vấn đề từ những nghịch lý về hiện trạng kinh tế-văn hóa-xã hội tại Đồng bằng sông Cửu Long, trong vai trò là vựa lúa gạo, thủy hải sản và trái cây lớn, phong phú nhất nước, nhưng lại là nơi có cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu nhất, trình độ học vấn thấp nhất, điều kiện sinh hoạt kém nhất và an sinh xã hội không đạt so với cả nước.

Những nhược điểm cố hữu ở Đồng bằng sông Cửu Long là ruộng đất được phân chia manh mún, khiến sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, khó cơ giới hóa, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất thấp, giá thành cao, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, chế biến thô sơ, khiến tỷ lệ thất thoát cao, hệ thống phân phối yếu kém, không gắn thị trường...

Theo các chuyên gia, hiện nay mức độ cơ giới hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long còn thấp, khoảng 1/3 so với Thái Lan và 1/4 so với Trung Quốc. Chất lượng máy cày, máy kéo, máy gặt đập liên hợp hầu hết đã qua sử dụng, nhập khẩu từ Thái Lan, Nhật Bản...

Theo đánh giá của các nhà khoa học, tổn thất sau thu hoạch lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long ở mức 12% về khối lượng và 13% về giá trị thương mại. Tổng tổn thất ở mức 25% tương đương với 5 triệu tấn, trị giá 25.000 tỷ đồng. Tổn thất về trái cây và thủy sản ở mức cao.

Các sản phẩm nông, thủy sản chế biến chủ yếu là: lúa gạo, rau quả, các sản phẩm thủy sản đông lạnh. Hầu hết các sản phẩm chế biến ở dạng sơ chế, tỷ lệ tinh chế còn rất thấp.

Trên lĩnh vực công nghiệp, chế biến thủy sản là ngành công nghiệp mũi nhọn, luôn chiếm tỷ trọng cao và có tốc độ tăng trưởng nhanh, nhưng sản phẩm chế biến chỉ dừng lại ở mức cá tra phi lê, tôm đông lạnh, mực đông lạnh... Ngành công nghiệp sản xuất chủ yếu là sản phẩm sơ chế, chưa có nhiều sản phẩm chế biến chuyên sâu.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 51 khu công nghiệp và khoảng 200 cụm công nghiệp đang hoạt động, với tỷ lệ lấp đầy và thuê đất mới chiếm khoảng trên 50%

Vướng mắc lớn nhất của khu, cụm công nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long là không theo quy hoạch tổng thể của toàn vùng, mỗi địa phương phát triển theo một cách, từ đó dẫn đến sự lãng phí về đất đai!

Phát biểu tại Hội thảo quốc tế “Ý tưởng điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”, GS-TS Bruno De Meuider, Trường đại học K.U. Leuven (Bỉ), cho rằng: “Địa phương nào cũng đua nhau xây dựng khu công nghiệp để thu hút đầu tư nhưng tỷ lệ lấp đầy rất thấp. Đây thực sự là một định hướng phát triển sai, làm phân tán nguồn lực, không phát huy được tiềm năng kinh tế”.

Nguyên nhân chính của công nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long chậm phát triển do sự bất cập về hệ thống kết cấu hạ tầng, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà đầu tư, lực lượng lao động dồi dào, nhưng tỷ lệ chưa qua đào tạo còn cao, thiếu nguồn lao động có trình độ kỹ thuật, chi phí đầu tư cao...

Để vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển bền vững, năng động, hiện đại, ngày 12 tháng 2 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu chung là:

"Xây dựng vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng phát triển năng động, có cơ cấu kinh tế hiện đại, mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao"

Và mục tiêu chung cho Đồng bằng sông Cửu Long là xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, thay vì chỉ chú trọng đến những tăng trưởng về lượng. Do vậy, cần quan tâm và khuyến khích sự hình thành, phát triển của các mô hình tổ chức sản xuất mới nhằm xây dựng quan hệ sản xuất mới, mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp.

Cần có chiến lược rõ ràng và chính sách ổn định trong thời gian dài khuyến khích, hỗ trợ vốn, tạo điều kiện về quyền sử dụng đất, chuyển giao tiến bộ khoa học-kỹ thuật để cá nhân, doanh nghiệp phát triển kinh tế trang trại, gia trại, thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm không giới hạn về quy mô.

Phát triển công nghiệp chế biến nông sản và thực phẩm theo hướng gắn với vùng nguyên liệu, đầu tư chiều sâu cho các nhà máy chế biến; khai thác, sử dụng nguyên phụ liệu sản xuất hàng tiêu dùng; mở rộng sản xuất những sản phẩm tinh chế, đa dạng hóa mặt hàng, gắn với mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu.

Ưu tiên quy hoạch lại sản xuất nông, thủy sản theo hướng cơ giới hóa trong canh tác, hiện đại hóa công nghiệp chế biến, bảo quản; xây dựng thương hiệu hàng hóa theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế; thích ứng với thị trường trong và ngoài nước.

Khuyến khích, hỗ trợ vốn đầu tư phát triển ngành cơ khí nông nghiệp, trang bị máy móc thiết bị sản xuất, chế biến nông, thủy sản, sản xuất phụ tùng lắp ráp máy động lực, các sản phẩm hóa chất phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.

Trên cơ sở rà soát các mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn có lợi thế cạnh tranh và có điều kiện phát triển, chính quyền cần tạo cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích và huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất năng lượng, cơ khí chế tạo, điện tử, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ thông tin...

Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần đặc biệt chú ý đến đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia và cán bộ khoa học-công nghệ đầu đàn; đào tạo, phát triển lực lượng lao động kỹ thuật cao có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong lao động. Đây là khâu đột phá trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng bằng sông Cửu Long.

Hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, tạo điều kiện để Đồng bằng sông Cửu Long phát triển bền vững, năng động, cần tập trung nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, hệ thống năng lượng, thuỷ lợi, hạ tầng mạng viễn thông, hệ thống khu công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung đô thị. Hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung được được đầu tư, xây dựng theo quy hoạch để đảm bảo tính đồng bộ cho toàn vùng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, tiết kiệm chi phí đầu tư xây dựng, bảo đảm cảnh quan và môi trường.

Tăng cường liên kết kinh tế vùng để tập trung nguồn lực đầu tư phát triển, khai thác hạ tầng kỹ thuật sử dụng chung; để hình thành vùng nguyên liệu tập trung phát triển sản xuất, khắc phục tình trạng không gian kinh tế vùng bị chia cắt theo địa giới hành chính, đầu tư dàn trải, lãng phí, cục bộ địa phương.

Từ tiềm năng, lợi thế, đánh giá đúng thực trạng, có giải pháp đồng bộ, được sự đồng thuận của xã hội với quyết tâm cao, tin tưởng rằng vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ phát triển năng động, bền vững trong một tương lai không xa./.


Trần Thành Lập
Cần Thơ, ngày 24 tháng 04 năm 2015

Bài viết cho Đài phát thanh truyền hình Hậu Giang


Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Giải pháp nào để nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững?


Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội. Phát triển sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội, tạo ra nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập cho số đông dân cư.

Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Sau khi giải phóng, miền Bắc tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Bên cạnh những thuận lợi thì ngành nông nghiệp đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách. Với mục tiêu xây dựng một đất nước có nền kinh tế phát triển với nông nghiệp là “mặt trận hàng đầu”.

Tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 16 đã ra Nghị quyết về “Hợp tác hóa trong nông nghiệp” theo phương thức: sở hữu cộng đồng, lao động tập thể, phân phối theo lao động.

Tuy nhiên, ngay từ đầu mô hình này đã bộc lộ rõ sự yếu kém qua năng suất lao động thấp, hiệu quả sản xuất không cao, thu nhập thấp, đời sống khó khăn, nông dân ngày càng cảm thấy bất mãn với hợp tác xã, dẫn tới nhiều nơi khoán hộ để nông dân thoát nghèo.

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên, ngày 10-9-1966, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã ra Nghị quyết số 68- NQ/TU “Về một số vấn đề quản lý lao động trong hợp tác xã nông nghiệp hiện nay” đánh dấu sự ra đời “khoán hộ” ở Tỉnh Vĩnh Phúc.

Tính đến cuối năm 1979, ở Miền Nam đã thành lập được 1.286 hợp tác xã và hơn 15.000 tổ sản xuất bao gồm khoảng 50% nông dân. Vậy mà sang năm 1980 các tổ chức này đã tan rã. Hậu quả là sản xuất nông nghiệp không phát triển trong khi dân số tăng, gây ra cảnh thiếu lương thực khiến từ năm 1976 đến 1980 mặc dù trong hoàn cảnh hòa bình Việt Nam phải nhập cảng 5,6 triệu tấn thực phẩm.

Sau khi khảo sát thực tiễn, ngày 13 tháng 1 năm 1981, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 100-CT/TW: "Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp". Tuy nhiên, khoán 100 chỉ có tác động tích cực trong một vài năm đầu.

Chính thời điểm đó, ngày 05/4/1988 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10/NQ-TW về “đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân và xác định vai trò kinh tế hộ nông dân”.

Như vậy, từ đại hội V, Đảng đã xác định “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu”, Đại hội VI đã cụ thể hóa việc thực hiện chủ trương đó nên rất chú trọng nghiên cứu chính sách quản lý nông nghiệp.

Kết quả thật kì diệu, sau đó chỉ một năm, từ một nước thiếu lương thực triền miên, đến năm 1989 sản lượng lúa gạo đạt con số 21,5 triệu tấn và lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được 1,2 triệu tấn gạo.

Nhờ những chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta trong giai đoạn này mà công cuộc đổi mới phát triển đúng hướng và từ năm 1989 có được những thành tựu bước đầu. Năm 1989, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 3 thế giới.

Từ đó, Trung ương tuyên bố : “Công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế hộ cá thể tư nhân, đảm bảo quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của hộ cá thể tư nhân”.

Sự “cởi trói” chính thức có ý nghĩa giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, đem lại sinh khí mới cho nền nông nghiệp nước nhà.

Sản lượng lúa của cả nước ngày càng tăng; trong năm 2012, Việt Nam đạt con số 43,7 triệu tấn, sản lượng gạo xuất khẩu 7,7 triệu tấn mang lại 3,5 tỉ USD, Việt Nam thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới.

Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ nhất trên thế giới về xuất khẩu gạo.

Trong năm 2014, có khoảng 47,8% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản. Tốc độ tăng tổng giá trị sản lượng toàn ngành nông nghiệp đạt 3,6%, tốc độ tăng giá trị GDP đạt 3,3% trong khi năm 2012, 2013 đều đạt mức 2,67, 2,68%. Trong đó, sản xuất lúa được mùa cả 3 vụ, sản lượng đạt 45 triệu tấn, tăng 2,3%, ngô, sắn, cà phê, chè, tiêu... đều tăng từ 4,8-7,2%. Chăn nuôi tăng sản lượng, được giá với nhiều cơ sở kiểu công nghiệp, áp dụng công nghệ cao. Thủy sản tăng mạnh về khai thác xa bờ, tăng 3,9%, nuôi trồng tăng 4%. Tổng kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông lâm nghiệp năm qua đạt 30,86 tỷ USD, tăng 11,2% với trên 10 mặt hàng trên 1 tỷ USD.
(Nguồn Báo điện tử Chính phủ)

Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển hiện nay, vai trò trung tâm của kinh tế hộ gia đình không thể đưa nền nông nghiệp phát triển bởi thiếu lợi thế về quy mô; kinh tế hộ nhỏ lẻ, thiếu liên kết, năng suất và chất lượng thấp, không gắn kết tốt với chuỗi giá trị từ khâu giống, sản xuất, chế biến, bảo quản và phân phối ra thị trường.

Các mối liên kết dọc và ngang hình thành và phát triển khó khăn. Những mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân, các hợp tác xã, tổ hợp tác, câu lạc bộ khuyến nông vẫn khá lỏng lẻo, không gắn kết được lợi ích và trách nhiệm giữa các bên.

Những nhược điểm cố hữu vẫn tồn tại: ruộng đất manh mún khiến sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, khó cơ giới hóa, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất thấp, giá thành cao, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, chế biến thô sơ, khiến tỷ lệ thất thoát cao, hệ thống phân phối yếu kém, không gắn thị trường...

Vấn đề là phải khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, trúng mùa thì mất giá, được giá thì thất mùa, sản xuất không theo thị trường...

Do đó, việc tập họp nông dân lại thành tổ chức là một nhu cầu bức bách và là điều các chuyên gia và nhà kinh tế đã kêu gọi từ nhiều năm. Nhưng cho đến nay không thấy thay đổi bao nhiêu. Lý do phải chăng là vì nói đến "hợp tác xã", dù là kiểu mới, đã để lại những ấn tượng không hay. Nhưng cũng có thể lực cản là từ đặc điểm tâm lý của chính người nông dân Việt Nam?

Tại buổi tọa đàm xây dựng hợp tác xã kiểu mới tại vùng ĐBSCL (16/04/2015), GS.TS, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh: "HTX kiểu mới sẽ tạo ra động lực kép, mạnh mẽ để tạo đột phá phát triển của nông nghiệp Việt Nam hiện nay".

Với mô hình cánh đồng mẫu lớn, một số mô hình liên kết với doanh nghiệp theo phương thức: doanh nghiệp đầu tư giống, vật tư nông nghiệp, kỹ thuật canh tác, bao tiêu sản phẩm theo hợp đồng hay nông dân góp cổ phần với doanh nghiệp bằng giá trị quyền sử dụng đất và trở thành những cổ đông, được chia cổ tức hoặc được tuyển dụng thành người lao động làm công ăn lương, nông dân tham gia vào các công đoạn sản xuất và nhận tiền lương khi lao động; doanh nghiệp vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc đầu tư giống, vốn, khoa học kỹ thuật và tổ chức quản trị kinh doanh.

Ngoài ra, Nhà nước cần xây dựng chiến lược rõ ràng và chính sách ổn định trong thời gian dài khuyến khích, hỗ trợ vốn, tạo điều kiện về quyền sử dụng đất, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật để cá nhân, doanh nghiệp phát triển kinh tế trang trại, gia trại, thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm không giới hạn về quy mô.

Mục tiêu trong tương lai là cần xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, thay vì chỉ chú trọng đến những tăng trưởng về lượng. Do vậy, cần quan tâm và khuyến khích sự hình thành, phát triển của các mô hình tổ chức sản xuất mới nhằm xây dựng quan hệ sản xuất mới, mở đường cho sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp.

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 có nhiều nội dung quan trọng phải giải quyết, từ ruộng đất (tích tụ ruộng đất), tổ chức sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, cơ cấu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, kết cấu hạ tầng, giải quyết việc làm, đào tạo nghề...

Trong bài viết nhân dịp tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh: “... cần thấy rõ rằng, quá trình tích tụ ruộng đất sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, cơ giới hóa nông nghiệp tăng nhanh, sản xuất hàng hoá nông nghiệp phát triển ngày càng cao với quy mô lớn, có phương thức sản xuất hiện đại, vùng sản xuất lớn, cho nên cần coi trọng phát hiện, nhân rộng các mô hình tốt về hợp tác, liên kết trong đầu tư, sản xuất nông, lâm nghiệp và khai thác hải sản trên biển. Đó là xu thế phát triển khách quan trong thời gian tới, vấn đề đặt ra là chúng ta tác động định hướng hiện thực hóa xu thế đó thế nào cho vững chắc để sớm đạt được hiệu quả cao nhất”.
(Nguồn: daibieunhandan.vn)



Trần Thành Lập

Cần Thơ, ngày 18 tháng 04 năm 2015